Bùi Anh Tuấn
Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể - Bộ Tài chính

Tóm tắt
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa rất quan trọng, tạo bước chuyển tích cực về nhận thức và chính sách, khẳng định vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế quốc gia. Nghị quyết đặt trọng tâm vào việc hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp. Việc triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách theo tinh thần Nghị quyết số 68- NQ/TW đang từng bước tháo gỡ những điểm nghẽn, khơi dậy niềm tin và tạo động lực mới cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 68-NQ/TW, môi trường kinh doanh, cải cách thể chế, phát triển doanh nghiệp

KINH TẾ TƯ NHÂN - ĐỘNG LỰC QUAN TRỌNG CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC GIA

Quá trình phát triển của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay trải qua 5 giai đoạn phát triển gắn với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế Việt Nam. Từ giai đoạn manh nha hình thành các tiểu thương sản xuất nhỏ, KTTN đã từng bước phát triển, trưởng thành, hội nhập và đã có những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Sau 40 năm đổi mới, khu vực KTTN đã khẳng định vị thế quan trọng không thể thay thế đối với nền kinh tế, KTTN hiện đóng góp hơn 50% GDP, 30% thu ngân sách và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động, góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội.

Mặc dù vậy, khu vực kinh tế này vẫn chưa thực sự phát triển mạnh mẽ như kỳ vọng. Đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ; tiềm lực tài chính, trình độ quản trị hạn chế; năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo thấp; năng suất lao động chưa cao; phần lớn tư duy còn manh mún, ngắn hạn, thiếu tầm nhìn và chưa thực sự có tính kết nối, tham gia vào các chuỗi giá trị.

Quan điểm, nhận thức, đường lối của Đảng về phát triển KTTN qua gần 40 năm đổi mới đã có sự phát triển, hoàn thiện, từ việc thừa nhận vai trò (cho phép tồn tại) tới khẳng định vị thế của KTTN. Trong bối cảnh mới nhiều khó khăn, thách thức, nhưng cũng đem lại cơ hội mới, thời cơ mới cho phát triển đất nước, để thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra, nhất là hai mục tiêu chiến lược 100 năm, đòi hỏi phải đổi mới tư duy, nhận thức, tầm nhìn; xoá bỏ mọi định kiến, phát huy vai trò, tạo sự đột phá phát triển KTTN để thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước trong tình hình mới.

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển KTTN khẳng định KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Nghị quyết được ban hành với nhiều điểm mới, đột phá, được cộng đồng doanh nghiệp hồ hởi đón nhận, được đánh giá là trúng và đúng, đáp ứng yêu cầu phát triển của KTTN trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đặt ra mục tiêu và yêu cầu cao để phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng của khu vực KTTN như: (i) nâng số lượng doanh nghiệp lên 2 triệu vào năm 2030, cao gấp đôi so với hiện nay; (ii) có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; (iii) đóng góp khoảng 58% GDP, 40% thu ngân sách, tạo việc làm cho 85% lực lượng lao động.

Để đạt được các mục tiêu này, Nghị quyết đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thể hiện tinh thần đổi mới, đột phá, cải cách mạnh mẽ, tin tưởng, trao cơ hội để KTTN phát triển nhanh, bền vững, chất lượng cao, đồng hành, tham gia cùng Nhà nước kiến tạo nền kinh tế, cụ thể:

(1) Đổi mới tư duy, nhận thức và hành động, khơi dậy niềm tin, khát vọng dân tộc, tạo xung lực mới, khí thế mới để phát triển KTTN: Thống nhất nhận thức, hành động của các cấp uỷ, chính quyền, cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân về vị trí, vai trò của KTTN; Nhà nước kiến tạo, phục vụ, hỗ trợ KTTN phát triển nhanh, bền vững, không can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

(2) Đẩy mạnh cải cách, nâng cao chất lượng thể chế, chính sách, bảo vệ quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, quyền cạnh tranh bình đẳng cho KTTN: Đổi mới tư duy xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật; giảm thiểu sự can thiệp và xoá bỏ các rào cản hành chính, cơ chế "xin - cho", tư duy "không quản được thì cấm"; người dân, doanh nghiệp được tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm; thực hiện cắt giảm tối đa thời gian xử lý thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ pháp luật, điều kiện kinh doanh, chuyển từ nền hành chính công vụ, quản lý là chủ yếu sang phục vụ và kiến tạo phát triển, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

(3)Tạo thuận lợi cho KTTN tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao: Minh bạch hóa thông tin, cải thiện thủ tục về đất đai; hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê mặt bằng trong khu, cụm công nghiệp; đẩy mạnh phát triển tín dụng xanh; hỗ trợ lãi suất và khuyến khích các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho doanh nghiệp tư nhân vay để triển khai các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).

(4) Thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số: Ban hành khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các ngành công nghệ mới, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới; cho phép doanh nghiệp tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển bằng 200% chi phí thực tế; hỗ trợ chi phí đầu tư mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

(5)Tăng cường kết nối giữa các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI: Xây dựng các chuỗi liên kết doanh nghiệp theo cụm ngành, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng. Khuyến khích các doanh nghiệp lớn dẫn dắt chuỗi cung ứng nội địa, kết nối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đẩy mạnh kết nối các doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa.

(6) Hình thành và phát triển nhanh các doanh nghiệp vừa và lớn, tập đoàn KTTN tầm cỡ khu vực và toàn cầu: Thực hiện chính sách đặt hàng, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, chính sách ưu đãi khuyến khích KTTN tham gia triển khai các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia (như đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, công nghiệp mũi nhọn, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, giao thông xanh, công nghiệp quốc phòng, an ninh...).

(7) Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh: Hoàn thiện khung khổ pháp lý về kinh doanh cá thể; minh bạch hoá hoạt động của khu vực này; thu hẹp sự chênh lệch về tổ chức quản trị và chế độ tài chính, kế toán để khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp

(8) Đề cao đạo đức kinh doanh, phát huy trách nhiệm xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ tinh thần kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nhân tham gia quản trị đất nước: xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hoá kinh doanh, trung thực, thanh liêm, trách nhiệm xã hội, gắn với bản sắc dân tộc, tiếp cận tinh hoa văn hoá kinh doanh thế giới. Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong toàn xã hội; nuôi dưỡng và khuyến khích tinh thần kinh doanh, đổi mới sáng tạo của mọi người dân.

TỪ CHỦ CHƯƠNG ĐẾN HÀNH ĐỘNG – ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐI VÀO CUỘC SỐNG

Ngay sau khi Nghị quyết số 68 được Bộ Chính trị ban hành, với tinh thần quyết liệt, khẩn trương, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ báo cáo Quốc hội thông qua Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển KTTN ngay tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV.

Nghị quyết số 198/2025/QH15 tập trung thể chế hóa các nhóm giải pháp đã rõ nội hàm, có tính cấp bách cần tháo gỡ ngay, tác động lớn đến niềm tin, hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực KTTN. Đồng thời, Bộ Tài chính đã khẩn trương xây dựng trình Chính phủ ban hành 2 kế hoạch hành động để triển khai 2 nghị quyết (Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 và Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025). Như vậy, chỉ trong hơn 60 ngày, 4 nghị quyết đã được Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ đồng loạt ban hành để thúc đẩy KTTN phát triển. Tiếp đó, Bộ Tài chính đã khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2026/NĐ- CP ngày 15/1/2026. Nghị định số 20/2026/NĐ-CP đã thể chế hóa cụ thể 5 nhóm giải pháp của Nghị quyết số 198/2025/QH15.

Nghị quyết số 138/NQ-CP và Nghị quyết số 139/ NQ-CP của Chính phủ giao cho các bộ, ngành, địa phương tổng cộng 69 nhiệm vụ, trong đó riêng năm 2025 cần hoàn thành 43 nhiệm vụ. Đến nay, các cơ quan trung ương và địa phương đã cơ bản hoàn thành hiệm vụ của năm 2025; 34/34 địa phương và 21 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết.

LAN TOẢ TINH THẦN - THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KTTN
Đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện thể chế và bảo đảm quyền kinh doanh của khu vực KTTN

Thực hiện các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 138/ NQ-CP, Nghị quyết số 139/NQ-CP và Nghị quyết số 66/NQ-CP của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã tập trung triển khai cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh gắn với chuyển đổi số và tổ chức thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính; đồng thời bảo đảm hệ thống tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính vận hành ổn định, thông suốt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy. Chính phủ đã ban hành 28 nghị định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền giữa Chính phủ và địa phương, tạo điều kiện phát huy tính chủ động, trách nhiệm của địa phương theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Triển khai Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính giai đoạn 2025–2026, các bộ, ngành và địa phương đã tập trung rà soát và đề xuất phương án cắt giảm thủ tục. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 15 quyết định phê duyệt phương án cắt giảm thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của 14 bộ, theo đó dự kiến bãi bỏ 606 thủ tục hành chính và đơn giản hóa 2.479 thủ tục. Tổng số thủ tục hành chính được cắt giảm hoặc đơn giản hóa đạt 3.085/4.888 thủ tục liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần giảm đáng kể thời gian và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Song song với cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ và Quốc hội đã tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm quyền sở hữu, quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh của khu vực KTTN.

Quốc hội đã thông qua Luật Phục hồi, phá sản nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong xử lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp phục hồi hoặc thực hiện thủ tục phá sản theo quy định. Đồng thời, các luật về thuế, sở hữu trí tuệ, thanh tra và tố tụng cũng được sửa đổi, bổ sung để thể chế hóa đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Tạo thuận lợi cho KTTN tiếp cận các nguồn lực

Nhằm tháo gỡ các rào cản trong tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh, Chính phủ đã ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 và Nghị định số 20/2026/NĐ-CP. Theo đó, các địa phương được phép sử dụng ngân sách để hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và vườn ươm công nghệ; đồng thời bố trí một phần diện tích đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê với mức hỗ trợ giảm tối thiểu 30% tiền thuê đất trong 5 năm đầu. Chính phủ cũng đẩy mạnh hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai nhằm minh bạch hóa thông tin và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận đất đai, triển khai dự án nhanh hơn.

Bên cạnh đó, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai các giải pháp đa dạng hóa nguồn vốn cho khu vực KTTN. Ngành ngân hàng ưu tiên nguồn tín dụng cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích cho vay dựa trên dòng tiền và mở rộng chấp nhận tài sản bảo đảm là tài sản vô hình hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Chính phủ cũng đang xem xét ban hành 2 nghị định hướng dẫn cơ chế ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất 2% đối với các khoản vay thực hiện dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và dự án áp dụng khung ESG của doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thông qua ngân hàng thương mại và thông qua các quỹ tài chính nhà nước.

Thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Trong thời gian qua, Chính phủ đã tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong khu vực KTTN. Quốc hội đã thông qua Luật Công nghiệp Công nghệ số và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, đồng thời Chính phủ ban hành 6 nghị định và Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành 5 thông tư hướng dẫn nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và khởi nghiệp sáng tạo. Nghị định số 20/2026/NĐ-CP cũng quy định nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, bao gồm miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian nhất định cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và cơ chế khấu trừ thuế đối với chi phí nghiên cứu và phát triển, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao sức cạnh tranh.

Tăng cường liên kết doanh nghiệp và hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân

Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách nhằm thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp tư nhân, giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và cụm liên kết ngành. Các chương trình đào tạo, tư vấn và kết nối thị trường được triển khai trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, điện tử, dệt may, da giày, chế biến thực phẩm và nông nghiệp nhằm nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật, cải thiện năng lực quản trị và tăng khả năng tham gia vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế. Đồng thời, hoàn thiện các cơ chế chính sách để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân tham gia các dự án quy mô lớn và quan trọng của quốc gia.

Bên cạnh đó, nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh đã được triển khai nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Các cơ quan quản lý đã hỗ trợ cung cấp phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử và các dịch vụ thuế điện tử; đồng thời triển khai rộng rãi ứng dụng Etax Mobile để hỗ trợ hộ kinh doanh thực hiện nghĩa vụ thuế.

KHƠI DẬY KHÁT VỌNG VÀ SINH LỰC MỚI TRONG CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP

Sự vào cuộc tích cực, chủ động và quyết liệt của cả hệ thống chính trị đã nhanh chóng đưa các quyết sách, chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển KTTN vào cuộc sống. Kết quả ban đầu của Nghị quyết số 68 rất tích cực và đáng ghi nhận.

Cụ thể, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã khơi dậy khí thế, thúc đẩy khởi sự kinh doanh và tác động tích cực tới tình hình gia nhập thị trường, hoạt động của doanh nghiệp. Từ tháng 5/2025, kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, ước tính bình quân mỗi tháng có khoảng 18 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng hơn 37,8% so với bình quân 4 tháng đầu năm. Bên cạnh đó, số lượng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động kể từ tháng 5/2025 đến tháng 12/2025 đạt trung bình hơn 8,3 nghìn doanh nghiệp/ tháng, cả năm 2025 có hơn 102.237 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 34,3% so với năm 2024. Năm 2025, cả nước có gần 297.500 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, đây là mức kỷ lục, tăng gần 27,4% so với năm 2024 với tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN bổ sung vào nền kinh tế ước đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm 2024.

Có thể thấy, số lượng doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tăng trưởng mạnh mẽ sau khi Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành, đạt bình quân hơn 26 nghìn doanh nghiệp/tháng. Tính đến hết năm 2025, cả nước có gần 1.020.000 doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế. Trên nền tảng các quy định để mở rộng không gian phát triển KTTN được hoàn thiện, sau ba đợt khởi công, khánh thành đồng loạt trong năm 2025, cả nước đã triển khai 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng, trong đó nguồn vốn của tư nhân 3,84 triệu tỷ, chiếm 74,6%.

Nghị quyết số 68-NQ/TW cũng tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong tư duy và hành động đối với KTTN. Tinh thần “từ Nghị quyết đến hành động” được triển khai nhanh, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương thông qua nghị quyết của Quốc hội, các kế hoạch hành động của Chính phủ và chương trình triển khai của các bộ, ngành, địa phương, qua đó từng bước tháo gỡ các “điểm nghẽn” mà doanh nghiệp gặp phải lâu nay về thủ tục hành chính, đất đai, tín dụng, nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Những kết quả tích cực ban đầu về gia nhập thị trường và xu hướng mở rộng vốn của doanh nghiệp cho thấy Nghị quyết số 68-NQ/TW không chỉ đúng về tầm nhìn mà đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Khi thể chế được khai thông, nguồn lực được khơi dậy và niềm tin được củng cố, KTTN sẽ bứt phá mạnh mẽ, đóng góp thiết thực vào mục tiêu xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, qua đó là nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong thời gian tới.